Chữ Nôm xuất hiện trong châu bản thời Gia Long (1802-1819) – Dấu ấn triều Nguyễn

Các mã chữ Nôm xuất hiện trong châu bản thời Gia Long (1802-1819) gồm 2 loại: mã chữ Nôm tự tạo và mã chữ Nôm mượn chữ Hán. Các mã chữ Nôm xuất hiện trong các văn cảnh như sau:

Về văn bản chiếu, dụ, chỉ: đây là loại văn bản chuyên giành cho nhà vua. Theo Mục lục châu bản triều Nguyễn, tập I, loại này có 164 đơn vị văn bản. Một tờ chiếu đề ngày 15 tháng 12 năm Gia Long thứ 1 (1802), nhà vua đã lệnh cho Nguyễn Phúc Thí, một chi phái con cháu nhà chúa trước đây kê khai phổ hệ(5), trong tờ chiếu này có đoạn:

德先聖王生下公子纙買?,

埃羅?嫡, 埃羅?庶,

継生子孫世次鄧包饒,

忍典列朝拱丕.

係公姓各支派現存羅包饒,

埃㐌預固官職,

埃渚預受官職調沛備開,

從前世系詳究的實具修譜牒進覽.

(đức Tiên thánh vương sinh hạ công tử là mấy ngôi, ai là dòng đích, ai là dòng thứ, kế sinh tử tôn thế thứ đặng bao nhiêu, nhận đến liệt triều cũng vậy. Hễ Công tính các chi phái hiện tồn là bao nhiêu, ai đã dự có quan chức, ai chưa dự thụ quan chức đều phải bị khai (kê khai đầy đủ). Trong đoạn văn này có 3 mã chữ Nôm tự tạo là ? (ngôi), ?(dòng), 饒 (nhiêu).

chu-nom-gia-long

Các mã chữ còn lại là các mã chữ Hán được nhà vua mượn để diễn đạt theo lối tư duy của người Việt. Trong tờ dụ ghi ngày 3 tháng 1 năm Gia Long thứ 2 (1803) có các mã chữ ?固差欽差屬內該奇玖?嘉定 (nay có sai Khâm sai thuộc nội Cai cơ Cửu vào Gia Định…). Các mã chữ Nôm tự tạo là: ? (nay), ? (vào). Các mã chữ Nôm còn lại là các mã chữ Nôm mượn chữ Hán.
Về loại công đồng truyền, công đồng sai, công đồng phó. Riêng loại công đồng truyền thì hiện có 309 đơn vị văn bản. Về loại này, sau các mã chữ công đồng truyền cho (quan địa phương)… có mã chữ Nôm tự tạo ? (nay) và các mã chữ Nôm mượn chữ Hán xuất hiện trong dạng công thức như: ??固攽下… [nay vâng có ban hạ… Châu bản ngày 6 tháng giêng năm Gia Long thứ 4 (1805)], hoặc cụm từ ??固傳 [ngày trước có truyền. Văn bản đề ngày 20 tháng giêng năm Gia Long thứ 2 (1803)], ??旨 [nay vâng chỉ. Văn bản đề ngày 6 tháng giêng năm Gia Long thứ 4 (1805)]…
Về loại Quốc thư. Đây là những văn bản bang giao của một số nước trong khu vực như Thái Lan, Miến Điện… với Việt Nam được dịch ra tiếng Việt, phần Việt văn ghi bằng chữ Nôm. Một bức thư của một người thủy thủ Pháp gửi cho nhà đương cục Việt Nam đề ngày 9 tháng 7 năm Gia Long thứ 16 (1817), mở đầu bức thư ghi 眾碎於在渃葩朗沙城浦都盧?… (Chúng tôi ở tại nước Ba Lãng Sa thành phố Đô Lô tên là…).
Trong đoạn văn này có mã chữ Nôm tự tạo 渃 (nước); ? (tên)… Các mã chữ còn lại là các mã chữ Hán được mượn để diễn đạt theo lối tư duy của người Việt.
Về loại tấu, trong mỗi bản tấu, các mã chữ Nôm tự tạo và các mã chữ Nôm mượn chữ Hán xuất hiện trong các cụm từ công thức 奏德皇上閍閍?高明御覽 (tấu vái đức hoàng thượng muôn muôn năm cao minh ngự lãm). Trong công thức này có 4 mã chữ Nôm tự tạo là (vái) 閍閍? (muôn muôn năm) hoặc cụm từ ?具表奏浪 [nay cụ biểu tấu rằng. Văn bản đề ngày 20 tháng 1 năm Gia Long thứ 4 (1805)]. ? (nay) là mã chữ Nôm tự tạo, các mã chữ còn lại trong cụm từ này là mã chữ Nôm mượn chữ Hán.
Các mã chữ Nôm tự tạo và các mã chữ Nôm mượn chữ Hán xuất hiện trong châu bản thời Gia Long phần lớn đều ở dạng viết tay. Một tờ tâu gửi lên nhà vua của bề tôi Khâm sai Bắc thành Chưởng hậu quân Lê Tông Chất đề ngày 10 tháng 12 năm Gia Long thứ 16 (1817) trình bày sự việc binh lính đóng đồn ở vùng biển thuộc thành Gia Định được thay phiên, trên đường trở về gặp bão, trôi dạt đến vùng biển của Nhật Bản, người Nhật Bản đã cứu những nạn binh và nhờ tầu buôn của Trung Quốc giúp họ trở về Việt Nam.

Xem thêm: Châu bản triều Nguyễn – di sản tư liệu thế giới

Theo Nguyen Xuan Nhat

Bài viết cùng chủ đề

Vận hành bởi blueteams.com | Copyright © 2015 Khám Phá Di Sản